Loạt bài công bố khoa học trên VNexpress

Loạt bài công bố khoa học trên VNexpress

Loạt bài công bố khoa học trên VNexpress.
Chủ đề này càng này càng được giới báo chí đại chúng lưu tâm. Sự lưu tâm của báo chí cũng là một áp lực lên cộng đồng nhà khoa học. Loạt bài này này thể hiện
Bài đầu (1) chỉ ra rằng về số lượng công bố quốc tế, VN chỉ bằng 1/3 Thái Lan và 1/4 của Mã Lai. Nếu với tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì đến năm 2030, số bài báo khoa học của Việt Nam cũng chỉ bằng Singapore hiện tại, và đến năm 2025 Việt Nam bằng Thái Lan năm 2016. Tức là Việt Nam tụt hậu 10 năm so với Thái Lan và 15 năm so với Singapore về công bố quốc tế.
Bài hai (2) bàn về những lí do cho sự kém cỏi về công bố khoa học của Việt Nam. Bài ba (3) bàn đến những vấn đề liên quan đến văn hóa khoa học “Publish or Perish”. Nhà báo hỏi tôi về lí do, tôi trả lời rằng:
“1. Việc nhà khoa học có công bố quốc tế có vai trò quan trọng như thế nào (Vì sao nhà khoa học cứ phải có công bố quốc tế)?
Trả lời: Đối với giới nghiên cứu khoa học, việc công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học có bình duyệt gần như là một nghĩa vụ. Tôi nói nghĩa vụ, là vì nhà khoa học nhận tài trợ từ những nguồn Nhà nước (nói đúng ra là từ tiền thuế người dân) hay từ các nhà mạnh thường quân, nên họ phải báo cáo cho những nhà tài trợ thành quả nghiên cứu ra sao. Hai nghĩa vụ khác là vì uy danh của trường đại học và vì sự cạnh tranh của quốc gia trong nền kinh tế tri thức vốn xem bài báo khoa học là một thước đo quan trọng.
Đối với cá nhân nhà khoa học, bài báo khoa học được xem như là đơn vị tiền tệ của sự nghiệp khoa học. Các tiêu chuẩn đề bạt và bổ nhiệm chức vụ khoa bảng đều đặt nặng vào lượng và phẩm của nghiên cứu khoa học, mà cụ thể là số lượng bài báo khoa học, nơi xuất bản, và phẩm chất của công trình nghiên cứu. Một nhà khoa học không có nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế cũng rất khó có thể thu hút tài trợ từ Nhà nước hay từ các nhà mạnh thường quân.
Do đó, từ nghiên cứu khoa học, đến công bố quốc tế, đến thu hút tài trợ, và đến đề bạt chức vụ khoa bảng là một vòng tròn khép kín. Chính vì thế mà ở các đại học phương Tây người ta có cái văn hoá “Publish or Perish” (công bố hay là diệt vong); có công bố quốc tế là có cơ may tồn tại, không có công bố quốc tế thì nguy cơ bị loại khỏi hệ thống khoa học là rất cao.
2. Theo ông những nguyên nhân nào khiến công bố quốc tế ở Việt Nam lại thấp hơn so với các nước trong khu vực, chưa nói đến các quốc gia khác lại hạn chế như vậy, thậm chí trên các tạp chí nổi tiếng chỉ đếm trên đầu ngón tay? Có phải do điều kiện Việt Nam hay xuất phát từ nội tại các nhà khoa học? Hay cao hơn là do cơ chế chính sách và cách quản lý của Nhà nước và người đứng đầu cơ quan?
Trả lời: Về lượng thì số bài báo quốc tế từ Việt Nam đã tăng trưởng nhanh trong thời gian 5 năm qua. Nhưng sự tăng trưởng đó gặp phải sự cạnh tranh ác liệt từ Malaysia và Indonesia. Về phẩm thì đa số các nghiên cứu từ Việt Nam, cũng như phần lớn nghiên cứu khoa học từ các nước đang phát triển, vẫn còn thấp so với các nước trong vùng. Nói cách khác, nhìn chung cả lượng lẫn phẩm trong công bố quốc tế thì Việt Nam vẫn còn kém hơn các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia và Singapore.
Tôi nghĩ có nhiều lí do cho sự tụt hậu trong công bố quốc tế của Việt Nam, kể cả vấn đề văn hoá khoa học, quản lí khoa học, và khó khăn về tiếng Anh. Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học vẫn chưa quen với văn hoá công bố quốc tế, chưa nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của công bố quốc tế. Một số người biện minh [sai] rằng chỉ có nghiên cứu cơ bản mới công bố quốc tế, còn nghiên cứu ứng dụng thì không cần công bố quốc tế.
Về quản lí khoa học, rất nhiều cơ quan tài trợ khoa học (như cấp sở, thậm chí cấp bộ, cấp Nhà nước), người ta không đặt tiêu chuẩn công bố quốc tế như là một tiêu chuẩn để tài trợ và “nghiệm thu”, và do đó, nhà khoa học cảm thấy không cần công bố quốc tế.
Một lí do quan trọng khác là vấn đề viết bài báo khoa học và tiếng Anh. Có nhiều bạn trẻ muốn công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế, nhưng họ không biết viết bài báo khoa học sao cho đạt chuẩn mực của tập san khoa học. Có người thì biết cách viết, nhưng tiếng Anh thì chưa đủ để có thể soạn một bản thảo hoàn chỉnh. Vấn đề tiếng Anh còn là một trong những lí do bài báo khoa học bị các tập san từ chối công bố.
Ngoài ra, còn có những nguyên nhân xa như tổ chức các nhóm/labo nghiên cứu, vấn đề tài trợ nghiên cứu, vấn đề xét duyệt đề cương nghiên cứu một cách công bằng và minh bạch. Đó là chưa kể đến những tiêu cực trong tài trợ mà ai trong giới khoa học cũng biết nhưng chẳng ai muốn nói ra, làm cho giới khoa học cảm thấy mệt mỏi không muốn dấn thân vào nghiên cứu khoa học.
3. Cá nhân ông có nhiều bài đăng trên tạp chí nổi tiếng, vậy ông có thể chia sẻ làm thế nào để các nhà khoa học khác cũng có bài đăng?
Trả lời: Yếu tố quan trọng nhất để có bài trên những tập san lớn và nổi tiếng là phẩm chất khoa học. Phẩm chất ở đây hiểu theo nghĩa nghiên cứu không chỉ có cái mới, mà còn có tiềm năng gây ảnh hưởng tích cực đến chuyên ngành hay đến khoa học nói chung. Điều này có nghĩa rằng chọn đề tài nghiên cứu sao cho có cái mới và có tác động lớn đến chuyên ngành là rất quan trọng. Những đề tài nghiên cứu như thế này nói chung đòi hỏi ngân sách tương đối cao và thời gian phải lâu dài. Do đó, cơ quan tài trợ phải có tầm nhìn tốt để tạo ra những chương trình nghiên cứu độc sáng và biết chọn những nhà nghiên cứu đẳng cấp quốc tế để điều hành những chương trình nghiên cứu đó. Nếu Việt Nam tiếp tục làm những đề tài theo lối mòn thì kết quả kì vọng cũng sẽ chẳng có gì quan trọng; nhưng nếu thay đổi tư duy thì may ra sẽ có kết quả có thể có ảnh hưởng tầm thế giới. Việt Nam, theo tôi thấy, là nơi có nhiều “chất liệu” cho những nghiên cứu quan trọng và có tác động lớn.
4. Làm thế nào để khuyến khích các nhà khoa học trong nước? Một trong biện pháp đưa ra là khuyến khích thưởng cho các nhà khoa học thì sao ạ?
Trả lời: Tôi nghĩ trước hết Việt Nam cần tạo ra một cộng đồng khoa học chuyên nghiệp và tinh hoa. Những người này phải được trả lương đủ sống để họ có thể đầu tư thời gian suy nghĩ cái mới và suy nghĩ lớn. Không thể nào làm nghiên cứu khoa học bằng cái bụng đói. Do đó, tôi nghĩ cần phải thay đổi mở rộng và phong phú hoá các chương trình tài trợ khoa học. Hiện nay, các chương trình tài trợ khoa học chỉ tài trợ cho công trình nghiên cứu là chính. Nhưng tôi thấy cần phải tạo ra các chương trình tài trợ cho các nhà khoa học xuất sắc, những người này sẽ lãnh đạo labo nghiên cứu. Không chỉ tài trợ lương bổng tốt mà còn tài trợ cho dự án nghiên cứu trong một thời gian 5 năm. Ngoài ra, cũng nên có chương trình tài trợ cho những dự án mang tính triển khai với mục tiêu nâng cao bằng sáng chế trên trường quốc tế cho Việt Nam.
Hơn 10 năm trước tôi đã từng đề nghị thưởng cho các nhà khoa học có công trình công bố quốc tế, và tôi vẫn bảo lưu ý kiến này. Ở rất nhiều nới trên thế giới, kể cả Úc, Malaysia, Trung Quốc, Pakistan, Iran, Saudi Arabia, v.v. người ta có chính sách thưởng tiền mặt cho tác giả chính của công trình nghiên cứu được công bố trên những tập san có tác động cao. Theo tôi, Việt Nam cũng nên làm thế, và trong thực tế thì đã có nhiều đại học Việt Nam thưởng cho công bố quốc tế nhưng tiêu chuẩn để thưởng của họ thì cần phải cải tiến nhiều.”
===
(1) http://vnexpress.net/…/cong-bo-quoc-te-cua-viet-nam-chi-ban…
(2) http://vnexpress.net/…/vi-sao-cong-bo-quoc-te-cua-viet-nam-…
(3) http://vnexpress.net/…/cong-bo-quoc-te-la-sinh-menh-cua-kho…

2 thoughts on “Loạt bài công bố khoa học trên VNexpress

  1. The University of Malaya is in the middle of a controversy, in which it is alleged that the University had instructed its faculty members to cite at least 3 papers from their colleagues in the same faculty. If that is true (which seems to be the case), that behavior is considered an institutionalized “citation stacking”.

    1. This behaviour makes scientific research died. Honestly, we have not had any method to scientifically identify this trick.

Comments are closed.

Comments are closed.